Thực tiễn đã khẳng định rõ sức mạnh của khối
đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhưng các thế lực thù địch
phản động luôn tìm cách xuyên tạc, phủ nhận. Để thực hiện mưu đồ đó, một số đối
tượng đã phát tán tài liệu bịa đặt, dựng cảnh người dân ăn mặc rách rưới, nhem
nhuốc... rồi chụp ảnh, quay camera gửi ra nước ngoài tung lên một số trang mạng
nhằm bôi nhọ chế độ, xuyên tạc nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà
nước ta. Địa bàn chúng thường hoạt động là ở các buôn, làng thuộc vùng sâu,
vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số... Nhưng tất cả những chiêu trò đó
không qua được tai mắt nhân dân và các lực lượng chức năng.
haha
Thứ Ba, 15 tháng 11, 2016
Thứ Năm, 10 tháng 11, 2016
QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ THAM NHŨNG
Chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu là mối quan tâm lớn, thường xuyên của Hồ Chí Minh trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Hồ Chí Minh coi tham ô, lãng phí là tội lỗi như việt gian bán nước. Theo Bác:
- Đứng về phía cán bộ mà nói, tham ô là: Ăn cắp của công làm của tư; đục khoét của nhân dân; ăn bớt của bộ đội; tiêu ít mà khai nhiều; lợi dụng của chung, của Chính phủ để làm quỹ riêng cho địa phương mình, đơn vị mình.
- Đứng về phía nhân dân mà nói, tham ô là: ăn cắp của công, khai gian, lậu thuế.
Thứ Tư, 9 tháng 11, 2016
Những vấn đề cần thiết cho Công tác đối ngoại quốc phòng để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình mới.
Những vấn
đề cần thiết cho Công tác
đối ngoại quốc phòng
để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
Một là, phải quán triệt, nắm vững đường lối,
chính sách đối ngoại quốc phòng độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp
tác, phát triển, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế của
Đảng và Nhà nước ta. Đây là vấn đề quan trọng hàng đầu đối với
công tác thông tin đối ngoại về quốc phòng. Bởi lẽ, có nắm vững và quán triệt
sâu quan điểm, chính sách đối ngoại quốc phòng của Đảng và Nhà nước thì công
tác tuyên truyền đối ngoại mới đảm bảo đúng định hướng, đạt chất lượng, hiệu
quả. Nếu không làm tốt điều đó, tất nhiên, sẽ có kết quả ngược lại; và như thế
sẽ cực kỳ nguy hiểm, hậu quả sẽ khôn lường. Vì vậy, công tác thông tin đối
ngoại phải tiếp tục quán triệt, thấu suốt đường lối đối ngoại về quốc phòng của
Đảng, được thể hiện trong Nghị quyết Đại hội XII; Nghị quyết Trung ương 8 (khóa
XI) về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, Nghị quyết 22-NQ/TW của
Bộ Chính trị (khóa XI) về “Hội nhập quốc tế”, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng
bộ Quân đội lần thứ X; Nghị quyết 806-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về “Hội
nhập quốc tế và Đối ngoại về quốc phòng đến năm 2020 và những năm tiếp theo” và
mới đây là Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) “Về thực hiện hiệu quả tiến trình
hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh
nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới”. Đồng thời phải nắm
vững phương châm “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy với tất cả các nước trong
cộng đồng quốc tế”, trên cơ sở đó tuyên truyền sâu rộng trong cộng đồng quốc tế
về quan điểm, chính sách quốc phòng mang tính chất hòa bình, tự vệ, thể hiện ở
chủ trương không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong các quan hệ
quốc tế, giải quyết mọi bất đồng và tranh chấp với các quốc gia khác bằng biện
pháp hòa bình dựa trên những nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và
luật pháp quốc tế.
Công tác thông tin đối ngoại còn phải chủ động tuyên truyền,
định hướng dư luận thông qua việc giải quyết các vụ việc, những tình huống
phức tạp nảy sinh, mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh, tạo sự
đồng thuận trong nước và tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế,
tạo môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển, góp phần giữ vững độc
lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước.
Hai là, phải thường xuyên bám sát các hoạt động
đối ngoại về quốc phòng để thông tin, tuyên truyền kịp thời, chính xác, đầy đủ,
hiệu quả. Đây là nhiệm vụ trọng tâm và cũng là yêu
cầu không thể thiếu đối với công tác thông tin đối ngoại về quốc phòng. Trong
bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, các quan hệ quốc tế, hợp tác quốc
tế, trong đó có quan hệ hợp tác quốc tế về lĩnh vực quốc phòng diễn ra ngày
càng sâu rộng với các quy mô khác nhau. Hơn nữa, uy tín, vị thế của nước ta
trên trường quốc tế ngày càng cao, vai trò của Việt Nam với những đóng góp to
lớn, quan trọng trong việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, phát triển ở
khu vực và trên thế giới đã và đang được khẳng định. Điều đó tạo thuận lợi và
cơ hội lớn cho công tác thông tin đối ngoại về lĩnh vực quốc phòng. Song cũng
đòi hỏi công tác thông tin đối ngoại phải bám sát các hoạt động đối ngoại về
quốc phòng để thông tin, tuyên truyền. Đặc biệt, phải bám sát các hoạt động hợp
tác quốc phòng, an ninh trong Cộng đồng ASEAN, Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) và
các cơ chế hợp tác quốc phòng đa phương, song phương với các quốc gia trong và
ngoài khu vực. Đồng thời, công tác thông tin đối ngoại về quốc phòng cần phải
chủ động tuyên truyền các quan hệ quốc phòng của Việt Nam với các nước dưới các
hình thức, như: về trao đổi đoàn quân sự; chia sẻ thông tin kinh nghiệm xây
dựng quân đội; hợp tác huấn luyện, đào tạo; diễn tập chống khủng bố, cứu hộ cứu
nạn; giải quyết các vấn đề nhân đạo...
Cùng với đó, công tác thông tin đối ngoại về quốc phòng cần tuyên
truyền những thành tựu mà Việt Nam đạt được trong 30 năm đổi mới và hội nhập,
trong đó có thành tựu trên lĩnh vực quốc phòng; đồng thời, tích cực tuyên
truyền, quảng bá văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, tinh thần độc lập, tự
chủ, ý chí quật cường vươn lên, sự hòa hiếu, thủy chung của con người
Việt Nam đến với bạn bè thế giới. Công tác thông tin đối ngoại quốc phòng phải
góp phần vào tăng cường hoạt động đối ngoại, hợp tác quốc phòng giữa Việt Nam
với các nước, vào nhiệm vụ đối ngoại chung của Đảng, Nhà nước và đối ngoại nhân
dân. Trong đó, phải phát huy được nội lực, tăng cường sức mạnh của khối đại
đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, tranh thủ được sức mạnh của
quốc tế và thời đại, nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp của lực lượng và thế trận
đối ngoại - quốc phòng - an ninh cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Ba là, chú trọng phối hợp chặt chẽ các tổ chức,
lực lượng trong hoạt động thông tin đối ngoại về quốc phòng. Thông tin, tuyên truyền về đối ngoại quốc phòng là trách
nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó, Quân đội nhân dân giữ
vai trò nòng cốt. Để thực hiện tốt công tác này, cần phải có sự phối hợp chặt
chẽ của các tổ chức, lực lượng và toàn dân nhằm tạo sức mạnh tổng hợp trong
hoạt động thông tin, tuyên truyền đối ngoại. Đặc biệt, cơ quan tuyên huấn, đối
ngoại, báo chí trong Quân đội [2] phải nắm vững chức năng, nhiệm vụ, đề cao
trách nhiệm, phối hợp chặt chẽ với nhau và với các cơ quan có cùng chức năng
ngoài Quân đội để nâng cao chất lượng các hoạt động thông tin, tuyên truyền
đối ngoại về quốc phòng. Việc phối hợp giữa các cơ quan, trước hết là cơ quan
truyền thông trong và ngoài Quân đội phải thường xuyên, chặt chẽ, nhất là khi
tổ chức các đợt, các chiến dịch thông tin đối ngoại quan trọng nhân các
sự kiện lớn ở trong nước và quốc tế. Các cơ quan chủ quản và cơ quan
chức năng thuộc Bộ Quốc phòng cần tiếp tục rà soát, bổ sung hoàn thiện cơ chế
quản lý hoạt động báo chí, trong đó có cơ chế phối hợp, quy chế phát ngôn, cung
cấp thông tin cho báo chí. Qua đó, một mặt, nhằm tăng cường công tác quản lý
hoạt động báo chí; mặt khác, tạo thuận lợi cho việc đẩy mạnh các hoạt động phối
hợp giữa các cơ quan báo chí trong công tác tuyên truyền về quốc phòng, quân sự
nói chung và đối ngoại quốc phòng nói riêng. Quá trình phối hợp hoạt động thông
tin đối ngoại về quốc phòng, cần bám sát định hướng tuyên truyền của Ban Tuyên
giáo Trung ương, Bộ Thông tin và Truyền thông, các quy định, quy chế của Bộ
Quốc phòng, trực tiếp là Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam. Cùng
với việc phát huy vai trò và phối hợp của các tổ chức, lực lượng, cơ quan
truyền thông ở trong nước cần phát huy vai trò của các đại sứ quán, các tổ chức
và cộng đồng người Việt Nam yêu nước ở nước ngoài để tạo sức mạnh tổng hợp
trong hoạt động thông tin, tuyên truyền đối ngoại về quốc phòng.
Bốn là, tích cực và chủ động tham gia cuộc đấu
tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, góp phần giữ vững “trận địa” thông tin
trong cả hoạt động đối nội và đối ngoại, nhất là đối với những thông tin quan
trọng, phức tạp, nhạy cảm. Các thế lực thù địch luôn tìm cách chống phá công
cuộc đổi mới do Đảng ta lãnh đạo, với thủ đoạn ngày càng đa dạng, tinh vi và thâm
độc. Chúng lợi dụng quá trình hội nhập quốc tế của nước ta để thâm nhập, can
thiệp nhằm gây mất ổn định an ninh, chính trị, kinh tế - xã hội, xóa bỏ sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Do đó,
công tác thông tin đối ngoại phải luôn cảnh giác, nhạy bén, chủ động tuyên
truyền, góp phần đấu tranh làm thất bại chiến lược “diễn biến hoà bình” của các
thế lực thù địch; cung cấp thông tin một cách kịp thời, thường xuyên, chính
xác, đầy đủ nhằm phản bác có hiệu quả đối với những luận điệu xuyên tạc, chống
phá của chúng và đây cũng là cơ sở quan trọng để đẩy mạnh thế “tấn công” trên
lĩnh vực thông tin đối ngoại. Đồng thời, tích cực chống “tự diễn biến”, “tự
chuyển hóa” trong nội bộ ta, chống âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân
và Công an nhân dân.
Lực lượng thông tin đối ngoại của Quân đội và Công an cần phát huy
vai trò, trách nhiệm mà Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Công an Trung ương giao là
nòng cốt trong đấu tranh chống “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.
Cùng với đó, tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức của cấp ủy, chỉ huy các cơ
quan, đơn vị trong toàn quân về hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng; nâng
cao bản lĩnh chính trị, trình độ, năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác đối
ngoại quốc phòng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình mới.
Năm là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và quản lý
của Nhà nước đối với hoạt động thông tin đối ngoại về quốc phòng. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, công tác
thông tin đối ngoại nói chung, đặc biệt là thông tin đối ngoại về quốc phòng có
vai trò hết sức quan trọng, nhưng cũng rất nhạy cảm, phức tạp. Nếu để xảy ra sơ
hở, sai sót trong hoạt động thông tin, tuyên truyền sẽ ảnh hưởng xấu đến hình
ảnh đất nước, thậm chí làm tổn hại đến lợi ích quốc gia - dân tộc. Vì thế, cần
phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với mọi hoạt
động thông tin đối ngoại về quốc phòng. Đây là vấn đề nguyên tắc, đảm bảo cho
hoạt động thông tin đối ngoại về quốc phòng đúng định hướng, đạt chất lượng,
hiệu quả thiết thực. Theo đó, cần tổ chức lực lượng nòng cốt và chuyên
trách trong hoạt động thông tin đối ngoại về quốc phòng. Lực lượng này cần được
thường xuyên trau dồi kiến thức, nâng cao trình độ lý luận, chuyên môn, bồi
dưỡng nghiệp vụ, trước hết là trang bị đầy đủ, vững chắc lý luận chủ nghĩa Mác
- Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nắm vững đường lối, quan điểm của Đảng và chính
sách, pháp luật của Nhà nước.
Thứ Sáu, 4 tháng 11, 2016
Quan hệ hữu nghị truyền thống đặc biệt Việt Nam - Lào
Quan hệ hữu nghị truyền thống đặc biệt Việt Nam - Lào
Hơn bảy thập kỷ qua, kể từ khi
Ðảng CS Ðông Dương ra đời, tình hữu nghị và mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào
đã được các lãnh tụ của hai dân tộc là Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Cay-xỏn
Phôm-vi-hản trực tiếp đặt nền móng và tiếp tục được các thế hệ lãnh đạo và nhân
dân hai nước dày công vun đắp, trải qua bao biến cố lịch sử, vượt lên mọi chông
gai, thử thách, trở thành mối quan hệ mẫu mực, thủy chung hiếm có.
Cách đây 45 năm, ngày 5-9-1962 đã đánh dấu
một mốc son chói lọi trong quan hệ hữu nghị đặc biệt giữa hai Ðảng, hai nước,
hai dân tộc Việt Nam - Lào, mãi mãi khắc sâu trong tâm trí của hàng triệu người
Lào, người Việt Nam, bởi cũng năm này, sau những thắng lợi giòn giã trên mặt
trận quân sự và ngoại giao, Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1962 về Lào đã được ký kết,
hai nước đã nhất trí thiết lập quan hệ ngoại giao, mở ra một chương mới, củng cố
và phát triển hơn nữa quan hệ Việt Nam - Lào. Vận mệnh của hai nước, hai dân
tộc chúng ta càng gắn bó khăng khít nhau, nhân dân hai nước đã trở thành những
người bạn chiến đấu "chia ngọt sẻ bùi", "đồng cam cộng
khổ", những người đồng chí, anh em thân thiết trên cùng trận tuyến.
Trong các cuộc kháng chiến chống thực dân
và đế quốc, đấu tranh giải phóng dân tộc và giành độc lập của mỗi nước, sự phối
hợp, giúp đỡ vô tư, chí tình giữa hai nước, hai dân tộc chúng ta là nhân tố
quan trọng làm nên thắng lợi của cách mạng mỗi nước. Ðã có biết bao tấm gương
chiến đấu, hy sinh của hàng triệu người con Lào và Việt Nam, nhiều người ngã
xuống, vì độc lập, tự do của mỗi nước, vì tình hữu nghị, đoàn kết chiến đấu
Việt Nam - Lào. Sự hy sinh cao đẹp và vô cùng to lớn đó trở thành sức mạnh vô
song, nguồn động lực lớn lao, góp phần đưa cách mạng hai nước đi từ thắng lợi
này đến thắng lợi khác, tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn vào năm 1975.
Quan hệ Việt Nam - Lào thật sự đặc biệt,
thật sự anh em, thật sự máu thịt. "Bát cơm sẻ nửa, hạt muối cắn đôi"
đã trở thành hình tượng bất tử, ngợi ca tình hữu nghị cao đẹp, chia sẻ sâu sắc
cả về vật chất lẫn tinh thần mà nhân dân hai nước chúng ta đã dành cho nhau
trong những năm tháng khó khăn, gian khổ nhất. Sau thắng lợi năm 1975, hòa bình
lập lại trên đất nước Việt Nam và Lào, quan hệ hai nước bước sang kỷ nguyên
mới, kỷ nguyên hòa bình, độc lập và chung tay xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhận
thức sâu sắc về ý nghĩa và tầm quan trọng của quan hệ đặc biệt đó, Chính phủ
hai nước đã nhất trí ký kết Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác ngày 18-7-1977, một
lần nữa, khẳng định tình đoàn kết đặc biệt trước sau như một, ủng hộ, giúp đỡ
lẫn nhau để bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; tăng cường phối hợp
hoạt động đối ngoại nhằm nâng cao vị thế của mỗi nước ở khu vực và trên trường
quốc tế.
Vượt qua muôn vàn khó khăn do hậu quả
chiến tranh để lại, bất chấp sự bao vây, cấm vận và chống phá quyết liệt của
các thế lực thù địch, nhân dân hai nước luôn dành cho nhau sự ủng hộ, giúp đỡ
to lớn về mọi mặt trong những ngày đầu mới giành chính quyền cách mạng. Mối
quan hệ son sắt, thủy chung, trong sáng đó đã hun đúc ý chí, quyết tâm của
chúng ta, tạo thành nền tảng vững chắc, để trên chặng đường mới, nhân dân hai
nước Việt Nam - Lào lại cùng kề vai sát cánh bên nhau, đẩy mạnh công cuộc xây
dựng và phát triển mỗi nước, vun đắp cho quan hệ láng giềng hữu nghị đặc biệt
Việt Nam - Lào mãi mãi trường tồn.
Nhìn lại chặng đường phát triển quan hệ
hai nước trong 45 năm qua và 30 năm ký kết Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác Việt
Nam - Lào, chúng ta có quyền tự hào khẳng định, tình đoàn kết đặc biệt thủy
chung và sự hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào đã và đang tiếp tục được củng cố,
đổi mới và phát triển sâu rộng hơn, góp phần thiết thực vào sự nghiệp xây dựng,
bảo vệ Tổ quốc và phát triển của mỗi nước. Trong từng bước tiến của hai nước,
hai dân tộc hôm nay, đều có sự đóng góp tích cực của hai bên làm cho quan hệ
đặc biệt Việt Nam - Lào ngày càng keo sơn, bền chặt và không ngừng đơm hoa kết
trái. Nội dung hợp tác ngày càng thực chất, sâu rộng, hiệu quả hơn và không
ngừng phát triển toàn diện trên tất cả các lĩnh vực.
Chúng ta vui mừng nhận thấy, quan hệ hợp
tác kinh tế giữa hai nước đã có những bước khởi sắc. Kim ngạch thương mại hai
nước năm 2006 đạt 260 triệu USD, tăng 60% so với năm 2005. Tính đến tháng
6-2007, đã có 76 dự án đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam và Lào, với tổng
vốn đầu tư đăng ký là 555 triệu USD. Chúng ta nỗ lực phấn đấu để đến năm 2010,
kim ngạch thương mại hai chiều đạt một tỷ USD. Trong đầu tư trực tiếp, chúng ta
đang nỗ lực, cùng nhau mở rộng hợp tác trên các lĩnh vực năng lượng, khai
khoáng, phát triển nông nghiệp, dịch vụ cho tương xứng với tiềm năng và mong
muốn của hai nước.
Trong lĩnh vực giao thông vận tải, Việt
Nam sẽ tập trung hỗ trợ xây dựng các tuyến đường nối các địa phương của Lào với
các cảng biển, các trung tâm kinh tế của Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi để
Lào mở rộng giao thương với quốc tế. Quan hệ hợp tác về an ninh, quốc phòng,
văn hóa, thông tin, thể thao, y tế,... ngày càng được củng cố và phát triển.
Ðặc biệt, trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, Việt Nam sẽ tiếp nhận nhiều hơn số
học sinh, nghiên cứu sinh của Lào sang học tập và nghiên cứu tại Việt Nam.
Kết quả hợp tác đạt được trong những năm
qua thể hiện sự nỗ lực, phấn đấu không ngừng của Chính phủ, của các bộ, ngành,
các địa phương, doanh nghiệp hai nước, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây
dựng và phát triển của mỗi nước. Trên lĩnh vực đối ngoại, sự phối hợp hiệu quả
và hỗ trợ nhau trên các diễn đàn quốc tế đã mang lại những kết quả tốt đẹp, góp
phần nâng cao vị thế của Lào và Việt Nam ở khu vực và trên trường quốc tế, góp
phần vào việc củng cố hòa bình, hợp tác cùng phát triển ở Ðông - Nam Á và trên
thế giới.
Quan hệ hữu nghị truyền thống, thủy chung,
trong sáng, tình đoàn kết đặc biệt giữa hai Ðảng, hai nước, hai dân tộc Việt
Nam - Lào được tôi luyện và trải nghiệm qua những năm tháng đấu tranh gian khổ
giành độc lập dân tộc của mỗi nước, chia sẻ vui buồn, hoạn nạn có nhau. Tình
đoàn kết, hữu nghị đặc biệt hiếm có đó trở thành tài sản chung thiêng liêng vô
giá của hai dân tộc; có ý nghĩa đặc biệt đối với thế hệ trẻ, bởi ở đó có sự hy
sinh xương máu của lớp lớp các thế hệ cán bộ, chiến sĩ, của nhân dân hai nước
Việt Nam - Lào. Thế hệ trẻ của hai nước hôm nay và mai sau cần phải biết trân
trọng, gìn giữ và tiếp tục phát huy tài sản tinh thần đó để vun đắp, tô thắm
thêm lịch sử vẻ vang của quan hệ hai nước.
Là người đồng chí, anh em thân thiết của
Ðảng NDCM Lào và nhân dân các bộ tộc Lào, Ðảng CS Việt Nam và nhân dân Việt Nam
vô cùng tự hào, phấn khởi nhận thấy, trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo sáng
suốt của Ðảng NDCM Lào, nhân dân các bộ tộc Lào anh em đã phát huy truyền thống
anh hùng, quật cường của đất nước Triệu Voi, vượt qua mọi khó khăn, thử thách,
giành thắng lợi to lớn về mọi mặt, ngày càng nâng cao vai trò và vị thế của Lào
ở khu vực và trên thế giới. Ðảng CS Việt Nam và nhân dân Việt Nam chia vui với
Ðảng NDCM Lào và nhân dân các bộ tộc Lào anh em về những thắng lợi vẻ vang đó
và chân thành chúc nhân dân các bộ tộc Lào anh em, dưới sự lãnh đạo của Ðảng
NDCM Lào, đứng đầu là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Chummaly Saynhasone kính mến,
tiếp tục giành được những thành tựu to lớn hơn nữa, thực hiện thắng lợi Nghị
quyết Ðại hội lần thứ VIII của Ðảng NDCM Lào và mục tiêu phát triển kinh tế -
xã hội từ nay đến năm 2020, xây dựng thành công đất nước Lào hòa bình, độc lập,
dân chủ, thống nhất và phồn vinh.
Dưới sự lãnh đạo của Ðảng CS Việt Nam, sau
hơn 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới, nhân dân Việt Nam đã giành được những
thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Kinh tế - xã hội phát triển với nhịp độ
cao, đời sống của nhân dân được cải thiện rõ rệt, quốc phòng, an ninh được giữ
vững, vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới đang ngày càng được
nâng cao. Phát huy những thành tựu đó, nhân dân Việt Nam đang ra sức phấn đấu
thực hiện thắng lợi Nghị quyết Ðại hội Ðảng lần thứ X, hướng tới mục tiêu năm
2020 đưa Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại,
thực hiện "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh".
Ðạt được những thành tựu to lớn hôm nay,
Ðảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn luôn nhận thức sâu sắc rằng, mỗi thắng
lợi của cách mạng Việt Nam trước đây cũng như hiện nay và mãi mãi sau này, đều
in đậm dấu ấn về sự sẻ chia, ủng hộ hết lòng và sự giúp đỡ quý báu của Ðảng,
Nhà nước và nhân dân các bộ tộc Lào anh em. Nhân dịp ngày lễ kỷ niệm trọng đại
này, chúng tôi xin gửi đến Ðảng, Nhà nước và nhân dân các bộ tộc Lào anh em
lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất của Ðảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam
về sự ủng hộ chí tình và sự giúp đỡ to lớn đó.
Trong bối cảnh tình hình mới hiện nay,
trước những thời cơ và thách thức đối với cả hai nước, hơn bao giờ hết, chúng
ta lại càng cần phải tăng cường và củng cố mối quan hệ hữu nghị truyền thống,
đoàn kết đặc biệt, thủy chung trong sáng đã được đúc kết trong câu nói của Chủ
tịch Hồ Chí Minh kính yêu:
"Việt - Lào hai nước chúng ta,
Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long".
Trên tinh thần đó, hai Ðảng, hai Nhà nước
và nhân dân hai nước chúng ta quyết tâm cùng nhau mãi mãi duy trì và phát triển
mối quan hệ thủy chung, trong sáng - tài sản vô giá của hai dân tộc cho muôn
đời con cháu mai sau, như lời Chủ tịch Cay-xỏn Phôm-vi-hản từng nói "Núi
có thể mòn, sông có thể cạn, song tình nghĩa Lào - Việt sẽ mãi mãi vững bền hơn
núi, hơn sông".
Một lần nữa, thay mặt Ðảng, Nhà nước và
nhân dân Việt Nam, tôi chân thành chúc nhân dân các bộ tộc Lào anh em, dưới sự
lãnh đạo của Ðảng NDCM Lào do đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Chum-ma-ly
Xay-nha-xỏn kính mến đứng đầu, thu được nhiều thành tựu to lớn hơn nữa trong
công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng thành công đất nước
Lào hòa bình, độc lập, dân chủ, thống nhất và phồn vinh.
Chúc tình hữu nghị, đoàn kết đặc biệt và
sự hợp tác toàn diện Việt
Nam - Lào mãi mãi xanh tươi, đời đời bền
vững.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)